Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam

info@yhocphothong.com

CÁC LOẠI PHƯƠNG HUYỆT TRỊ BỆNH THÔNG THƯỜNG THEO TRUYỀN THỐNG

CÁC LOẠI PHƯƠNG HUYỆT

PHƯƠNG HUYỆT DỰ PHÒNG (PHÒNG BỆNH)

BỒI DƯỠNG TRUNG KHÍ PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Thái Ất Thần Châm”.

2. Nhóm huyệt: Túc tam lý.

3. Cách dùng: Châm kim chừng 15 phút. Bệnh thuộc hư hàn sau khi rút kim gia thêm cứu.

4. Công dụng: Hòa trung khí, lý Tỳ Vị, thăng thanh giáng trọc. Thông trường tiêu trệ. Sơ phong hóa thấp. Bổ trợ chính khí, phòng ngừa bệnh tật.

5. Giải thích: Túc tam lý là “Thổ huyệt” ở trong Thổ, vì Tỳ Vị ở trong ngũ hành thuộc về Thổ. Cho nên nó được xem như là “Thổ ở trong Thổ”. Túc tam lý lại là “Hợp huyệt” của kinh Túc Dương minh Vị. Thổ có thể sinh ra vạn vật lại cũng có thể là cho nát thối vạn vật. Vị là biển của ngũ cốc là gốc của hậu thiên, ngũ tạng lục phủ của con người đều nhờ vào sự vượng suy của Vị khí để nuôi dưỡng cho chính mình. Nếu có đủ Vị khí thì sinh, thiếu Vị khí thì chết. Vì thế, huyệt Túc tam lý có thể làm cho kiện Vị khí và bổ sự hư tổn của tạng phủ, nó có giá trị như “Độc sâm thang”. Do đó, người ta cho huyệt Túc tam lý là huyệt bảo dưỡng cho toàn thân vậy.

6. Gia giảm: Nôn mửa gia Trung quản, Gian sứ. Táo bón gia Tam âm giao, Hợp cốc, Nội quan. Tê chân gia Hoàng khiêu, Phong thị.

* Ghi chú: Vị thuộc “Mậu thổ” ở Trung tiêu lấy “hòa” và “giáng” làm con đường thuận. Tỳ thuộc “Kỷ thổ” lấy “Thăng” và “Phát” làm sở trường riêng. Vị thuộc phủ, thuộc dương, tính khéo léo về làm nhuận và ghét táo, còn Tỳ lại thuộc tạng, thuộc âm, tính ưa táo mà ghét thấp. Tỳ chủ về thăng khí đi lên, còn Vị chủ về gián trọc đi xuống. Tỳ và Vị cùng làm biểu lý cho nhau, còn kinh mạch cùng làm lạc và thuộc. Tỳ cũng như Vị cùng có nhiệm vụ làm tiêu hóa, hấp thu và chuyển hóa cái tinh vi. Dùng huyệt này sẽ hoàn thành công năng thu nạp và vận hóa. Cho nên, nếu Tỳ Vị được mạnh thì ăn uống sẽ được, dinh dưỡng đầy đủ thân thể mới tráng kiện. Khi châm bổ Túc tam lý thì thăng được dương khí và ích Tỳ, châm tả sẽ thông dương khí và giáng trọc, tiêu tích, trừ trướng. Trẻ con bản chất thuần dương không nên cứu huyệt này.

BẢO MỆNH DIÊN THỌ PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Biển Thước Tâm Thư”.

2. Nhóm huyệt: Quan nguyên, Khí hải, Mệnh quan, Trung quản.

3. Cách dùng: Cứu thứ tự các huyệt Quan nguyên, Khí hải, Trung quản, Mệnh quan (tức Thực độc). Mỗi huyệt cứu 10 – 15 phút, hoặc cứu 5 – 10 lửa, có thể dùng kim châm.

4. Công dụng: Bồi bổ nguyên khí, ích Thận cố tinh.

5. Chủ trị: Khí huyết suy nhược của người già, hụt hơi, biếng nói, hồi hộp, chóng mặt, ù tai, lừ đừ mệt mỏi, ăn ít, tay chân lạnh. Chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch tế nhược. Còn dùng được trong các chứng trạng không rõ ràng mà muốn có tác dụng nâng cao sức khỏe.

6. Giải thích: Huyệt Khí hải thuộc Nhâm mạch là huyệt chủ yếu trong phương này. Trong “Đồng nhân du huyệt châm cứu đồ kinh” ghi rằng: “Khí hải là biển sinh khí của nam giới”. “Châm cứu tư sinh kinh” cũng ghi: “… làm biển cho nguyên khí, đó là huyệt Khí hải, nơi mà nguyên khí của con người sản sinh ra”. Thường cứu vào huyệt này có tác dụng bồi bổ nguyên khí và ích Thận cố tinh.

Huyệt Quan nguyên là nơi hội tụ của Nhâm mạch và ba kinh âm của chân. Cứu vào huyệt này sẽ ôn Thận cố tinh, bổ khí hồi dương, thông điều Xung Nhâm, thanh lý hạ tiêu. Thường kết hợp với Khí hải để tráng dương.

Huyệt Trung quản là mộ huyệt của Vị, cứu vào đó làm cho bổ ích Tỳ Vị để bổ nguồn sinh hóa ra khí huyết, bổ hậu thiên để dưỡng phần tiên thiên. Cho nên có sự giúp đỡ của Khí hải để tăng phần phò chính khí bồi dưỡng nguyên khí, đuổi tà khí phòng ngừa bệnh tật.

Huyệt Mệnh quan, cứu vào đó có thể làm cho kiện vận được Tỳ Vị, trợ thêm huyệt Trung quản để sinh khí cho hậu thiên, hợp với huyệt Khí hải để làm mạnh nguồn sinh khí.

Tất cả các huyệt trên hợp lại có tác dụng làm mạnh phần tiên thiên để tăng sinh khí, dưỡng hậu thiên để sinh khí huyệt. Ở con người vào thời kỳ cuối đời, dương khí suy kiệt, khi hạ nguyên đã bị hư tổn thường cứu vào những huyệt này để tăng cường tuổi thọ.

7. Gia giảm: Hồi hộp, đánh trống ngực gia Nội quan, Thần môn để ích Tâm khí, an Tâm thần. Chóng mặt, ù tai gia Bách hội, Phong trì để ích tủy, mạnh não. Ăn ít gia thêm Túc tam lý để làm kiện vận khí của Tỳ Vị.

* Ghi chú: Có nhiều huyệt khác có thể dùng trong tăng sức khỏe như Thần khuyết, Túc tam lý, Đại chùy, Phong môn, Thân trụ, Cao hoang, Dũng tuyền. Tất cả đều có thể dùng phép cứu.

DỰ PHÒNG TRÚNG PHỦ PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Vệ Sinh Bửu Giám”.

2. Nhóm huyệt: Bạch hội, Kiên ngung, Khúc trì, Phong thị, Túc tam lý, Tuyệt cốt, Phát tế.

3. Cách dùng: Châm (Có thể tùy theo mạch để cứu các huyệt theo thứ tự như trên, mỗi huyệt một lần cứu 5 – 7 lửa hoặc 10 phút. Nếu bệnh bên trái thì cứu bên phải, bệnh bên phải thì cứu bên trái).

4. Công dụng: Bổ ích khí huyết, sơ thông kinh lạc.

5. Chủ trị: Có triệu chứng đầu tiên của trúng phong hoặc trúng phong giai đoạn đầu. Hễ người bệnh lớn tuổi có các triệu chứng của Can dương vượt lên như khí hư, nhiều đàm hoặc chóng mặt, hồi hộp, có khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên của trúng phong như cứng lưỡi, nói ngọng ngịu không rõ, tê các đầu ngón tay ngón chân. Hoặc tay chân mất cảm giác, da thịt không có cảm giác, hoặc miệng méo mắt xếch đột ngột, lưỡi cứng, chảy nước dãi ở khóe miệng, thậm chí liệt nửa người, kèm theo các triệu chứng sợ lạnh, phát sốt, tay chân co quắp, đau nhức khớp xương, rêu lưỡi mỏng trắng, mạch phù huyền hoặc huyền tế là những triệu chứng trúng phong nhẹ, dùng những huyệt này.

6. Giải thích: Phương huyệt này phổ biến dùng cho những người cao tuổi khí hư, kinh lạc thất dưỡng, hoặc người chính khí bất túc, kinh lạc hư rỗng, do vệ khí bên ngoài không được kiên cố, phong tà thừa sự trống rỗng đó rồi nhập vào kinh lạc, khí huyễn nghẽn tắc vận hành không lưu thông làm gân mạch mất chức năng nhu dưỡng rồi gây ra bệnh. Dùng phép này để bổ ích khí huyết, sơ thông kinh lạc.

Bách hội là nơi “Tam dương ngũ hội”, cứu vào đó có thể ích khí sáng suốt, tuyên thông được phần dương của Đốc mạch, tăng cường sức vệ khí bảo vệ bên ngoài, nên huyệt này lấy làm huyệt chính. Kinh Dương minh là khi nhiều khí nhiều huyết. Chọn Kiên ngung, Khúc trì, Túc tam lý nhằm sơ thông khí của kinh thủ túc Dương minh để ích khí huyết, những huyệt này bổ trợ thêm cho huyệt trên. Phong trị, Tuyệt cố là huyệt của kinh Túc Thiếu dương kinh, cứu vào đó thì đuổi được phong, mạnh gân tráng cốt, phụ thêm cho những huyệt trên. Phát tế là huyệt kinh nghiệm trong dự phòng trúng phong, cứu vào để làm sứ.

7. Gia giảm: Can dương vượt quá, nên gia thêm Hợp cốc, Thái xung, Tứ quan để bình Can tiềm dương. Miệng méo mắt xếch, nên gia bên huyệt những huyệt tại chỗ để sơ đạo kinh khí nơi bị bệnh, làm cho khí huyết điều hòa, gân thịt được nhu nhuận thì bệnh sẽ khôi phục.

DỰ PHÒNG TRÚNG TẠNG PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Vệ Sinh Bửu Giám”.

2. Nhóm huyệt: Bách hội, Đại chùy, Phong trì, Kiên tỉnh, Khúc trì, Túc tam lý, Gian sứ.

3. Cách dùng: Tùy theo mạch để cứu theo thứ tự các huyệt trên, mỗi huyệt cứu 5 – 7 lửa, hoặc 5 – 10 phút.

4. Công dụng: Bình Can tức phong, thanh hỏa quét đàm, định Tâm khai khiếu.

5. Chủ trị: Phòng ngừa trúng phong. Chủ trị chứng trúng phong nhẹ, như bán thân bất toại, miệng méo mắt xếch, tiếng nói ngọng nghịu, chảy nước dãi hai bên khóe miệng, tê liệt mắt, run tay, lảo đảo, đàm nhiều rêu lưỡi trắng dơ, mạch huyền.

6. Giải thích: Chứng trúng tạng trong trúng phong phần nhiều do ở Tỳ mất chức năng vận hóa rồi tụ thấp lại sinh ra đàm, nghẽn tắt các kinh lạc làm mờ mịt các thanh khiếu, hoặc do ngũ chí quá cực độ làm cho Tâm hỏa thịnh lên một cách đột ngột, hoặc giận dữ quá tổn thương tới Can, Can dương nổi đột ngột, dẫn động tới Tâm hỏa làm phong hỏa cùng nhau bùng lên, âm dương trái lẻ nhau làm khí huyết cùng nghịch ngược lên trên làm cho Tâm thần hôn mê mà phát bệnh. Thông thường, bệnh tình tương đối nặng tiên lượng xấu. Vì thế, trong trị liệu sau khi bị bệnh gặp nhiều khó khăn, cho nên cần phải dự phòng khi chưa bị bệnh.

“Chứng trị hối bổ – Trúng phong” ghi rằng: “Người bình thường tay chân tê mất cảm giác, có khi chóng mặt, đó là triệu chứng đầu tiên của bệnh trúng phong, cần phải dự phòng trước.”

Đốc mạch là nơi thống lãnh các kinh dương, vì thế cứu Bách hội, Đại chùy nhằm điều Đốc mạch, làm cho khí hỏa của dương kinh thăng lên và thăng tiết được, chứng huyệt này là huyệt chiến lược. Cứu Phong trì, Kiên tỉnh nhằm điều kinh khí của Can và Đởm, dập tắt phong dương đi ngược lên, đó là những huyệt bổ sung. Cứu huyệt Túc tam lý là hợp huyệt của Túc Dương minh để kiện tỳ vận hóa được nguồn gốc sinh ra đờm, đó là huyệt phụ thêm. Gian sứ là kinh huyệt của Tâm bào, cứu vào đó thì định được Tâm an được thần, thông kinh hoạt lạc, hòa Vị khử đàm, là những huyệt dùng làm sứ. Các huyệt trên phối lại với nhau đều có công hiệu bình Can dập tắt phong, thanh hỏa quét đàm, định thần và khai khiếu.

7. Gia giảm: Miệng méo mắt xếch gia thêm Địa thương, Giáp xa, Toản trúc để sơ thông khí của kinh lạc, lưỡi ngọng gia thêm Liêm tuyền, Thông lý để khai Tâm khiếu, ngón tay run rẩy gia thêm Bát tà để thư kinh lạc. Chóng mặt đàm nhiều giam thêm Phong long để quét đàm thanh khiếu.

PHƯƠNG HUYỆT GIẢI BIỂU

SƠ PHONG GIẢI BIỂU PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Thái ất thần châm cứu”.

2. Nhóm huyệt: Bách hội, Đại chùy, Phong trì, Khúc trì, Hợp cốc.

3. Cách dùng: Trước tiên châm Bách hội, kế tiếp Đại chùy, Phong trì, sau đó châm Khúc trì, Hợp cốc làm tá, châm Bách hội sâu 2 phân, Đại chùy sâu 5 phân (tả), Hợp cốc, Khúc trì sâu 5 phân dùng thủ pháp bổ nhiều tả ít. Sau khi châm nếu thuộc phong hàn nên cứu vào 3 – 5 lửa, lưu kim 15 phút, nếu thuộc phong nhiệt thì dùng châm để tả mà không cứu. Ngoài ra, thầy thuốc còn phải biện chứng về hư thực cho rõ ràng. Nếu thể hư, phải trước bổ sau tả, hoặc bổ nhiều tả ít để phù trợ cho chính khí mà đuổi tà khí, nếu là thể thực thì trước tả sau bổ hoặc bình bổ bình tả, đuổi tà khí mà không làm cho chính khí tổn thương, tà khí lui thì chính khí khôi phục.

4. Công dụng: Sơ phong giải biểu, điều hòa dinh vệ.

5. Chủ trị: Các bệnh thuộc ngoại cảm phong hàn, gồm có các triệu chứng lục dâm tà khí còn ở biểu như phát sốt sợ lạnh, đau đầu, cứng cổ, lạnh lưng, đau thắt lưng, cứng cột sống, ê đau toàn thân, không ra mồ hôi, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù khẩn. Cũng như các chứng bệnh thuộc ngoại cảm phong nhiệt, gồm có các triệu chứng như phát sốt không sợ lạnh, đau đầu tự ra mồ hôi, miệng khát không muốn uống, rêu lưỡi vàng nhạt hoặc sẫm, mạch phù sác. Các chứng nêu trên dùng nhóm huyệt này gia giảm để trị liệu.

6. Giải thích: Bách hội là huyệt đứng đầu các dương khí, đó là nơi hội của Đốc mạch và Thủ, Túc Tam Dương. Nó thuần dương, chủ biểu, châm vào làm thăng dương khí, có tác dụng phò trợ chính khí và đuổi tà khí.

Đại chùy là hội huyệt của Đốc mạch và Thủ, Túc Tam Dương. Dùng để giải biểu, sơ tà. Tả nó làm cho thanh nhiệt, bổ nó làm cho tán hàn.

Phong trì là giao hội huyệt của kinh Thiếu dương và Dương Duy mạch. Dương Duy chủ dương khí ở biểu, châm nó tăng cường sức giải biểu.

Khúc trì là hợp huyệt của Thủ Dương minh, có khả năng đi ra biểu vào lý, đặc tính của nó chỉ có đi nhưng không gìn giữ, do đó dùng nó để dẫn tà khí xuất ra bên ngoài.

Hợp cốc là nguyên huyệt của Thủ Dương minh, đóng vai trò thăng giáng cho âm khí lẫn dương khí là huyệt trọng yếu chữa những bệnh nằm ở nửa thân trên.

Năm huyệt Bách hội, Phong trì, Đại chùy, Khúc trì, Hợp cốc kết hợp với nhau có tác dụng sơ phong, tán hàn, điều hòa dinh vệ.

7. Gia giảm:

– Đau đầu cứng cổ, gia Phong phủ châm sâu 3 phân, trước bổ sau tả, để làm sơ giải tà khí ở não phủ, tiết được hỏa khí và giảm đau.

– Trong ngực bứt rứt, tiểu vàng hoặc đỏ, gia Nội quan, châm sâu 5 phân dùng phép tả, để làm thanh Tâm tả nhiệt.

– Nói bậy, nói bạ, đại tiện thô táo, thuộc chứng thực của kinh Dương minh, gia Phong long, Túc tam lý để làm nhuận ở bên dưới, có khả năng sơ thông trường Vị, gia Dương lăng tuyền để sơ Can giáng nghịch, lý khí thông lạc.

– Đau hông sườn, nôn mửa, gia châm Dương lăng tuyền, Chi cấu, đều dùng phép tả để sơ Can lý khí, giáng nghịch để chặn đứng nôn mửa.

– Ho, đàm vàng, ngực bứt rứt, khí suyễn gia Xích trạch châm bằng phép tả, Ngư tế cũng bằng phép tả, mục đích tả hỏa tà ở kinh Phế nhằm bình được chứng ho suyễn.

– Nghẹt mũi, chảy nước mũi trong, gia châm Thượng tinh, châm Ngư tế dùng phép bổ, Nghinh hương sâu 3 phân dùng phép tả, làm thanh não lợi khiếu, cầm chảy nước mũi.

8. Ghi chú: Nhóm huyệt trên cũng còn phù hợp cho tà khí ở tại bán biểu bán lý của kinh Thiếu dương. Trong chứng sốt rét tủy phải phân biệt rõ ràng âm dương biểu lý, nhưng vấn đề hàn nhiệt vãng lai (Hàn nhiệt vãng lai: Khi nóng khi lạnh) thì chỉ có một. Tất cả đều lấy điều hòa dinh vệ, phò chính khí làm chủ, tùy chứng để gia giảm kết quả rất khả quan.

PHƯƠNG HUYỆT BỔ ÍCH

I. LOẠI BỔ KHÍ HUYẾT ÂM DƯƠNG

BÁCH HỘI ĐỀ GIANG PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Châm Cứu Đại Toàn”.

2. Nhóm huyệt: Bách hội, Cưu vĩ.

3. Cách dùng: Trước cứu Bách hội 1 tiếng đồng hồ, sau cứu Cưu vĩ 5 – 10 phút.

4. Công dụng: Bổ khí cố căn, thăng dương cử hãn.

5. Chủ trị: Thoát giang (lòi dom) lâu ngày. Sắc mặt vàng héo, mệt mỏi kém sức, tim hồi hộp váng đầu, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch nhu tế.

6. Giải thích: Nguyên nhân bệnh thoát giang, đa số do kiết lỵ lâu ngày, tiêu chảy lâu ngày cho đến phụ nữ sanh đẻ quá nhiều, thể chất hư nhược, trung khí hạ hãm thu nhiếp mất quyền hành dẫn đến. Thoát giang lâu ngày, khí hư cũng nặng, không đại bổ khí nguyên dương thì không thể nâng lên. Bách hội là hội của các kinh dương, lại vị trí ở đỉnh đầu, thoát giang chọn Bách hội, là ý bệnh dưới chọn trên. Cưu vĩ là nguyên (gốc) của cao (chất béo), lại là bể của các âm huyệt của Nhâm mạch, âm là gốc của dương, chọn gốc cố dương khí của nó, làm cho dương khí sinh hóa có nguồn. Do đó, hai huyệt cùng dùng có thể đạt công hiệu đại bổ nguyên dương, cố cử hãm (bền gốc thăng đề), bệnh thoát giang lâu ngày tự khỏi.

7. Gia giảm: Nếu ăn uống kém, mệt mỏi có thể gia Khí hải, Túc tam lý, Tỳ du, Trung quản, để bổ ích Tỳ Vị, cố (vững) nguồn hóa khí huyết.

 

BỔ KHÍ ÍCH HUYẾT PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Hiện Đại Y Án Châm Cứu Tuyển” của Khương Đức Tự.

2. Nhóm huyệt: Túc tam lý, Tam âm giao, Tuyệt cốt, Huyết hải.

3. Cách dùng: Các huyệt đều dùng phép bình bổ bình tả, lấy bổ làm chính, châm chích mỗi lần lưu kim 30 phút. Điều trị bằng phép cứu mỗi huyệt có thể cứu 7 – 14 mồi. Có thể cách một ngày châm cứu một lần.

4. Công dụng: Kiện trung bổ khí, dưỡng huyết ích tinh.

5. Chủ trị: Khí huyết lưỡng hư, chứng thấy xây xẩm, tim hồi hộp, tay run, ăn không được, uể oải yếu sức, tiếng nói thấp bé, sắc mặt trắng bệch, lưỡi nhạt, mạch tế. Bạch cầu, hồng cầu, tiểu cầu đều thấp hơn hằng số bình thường.

6. Giải thích: Người mắc bệnh ung thư (Cancer) vốn bị tế bào ung thư thẩm thấu, luôn luôn biểu hiện có xuất hiện chất dịch xấu, cộng chung trong lúc điều trị giết tế bào ung thư bằng hóa dược, còn làm tổn hại đến các tổ chức bình thường khác, ức chế công năng tạo huyết của cốt tủy, dẫn đến cơ thể người bệnh càng yếu, khí huyết càng hư. Do đó, phò trợ chính khí, bổ khí ích huyết là phép điều trị chủ yếu. Mà nguồn sinh hóa khí huyết là hậu thiên Tỳ Vị, là tinh của tiên thiên. Cho nên phải lập pháp kiện trung bổ khí, dưỡng tinh ích huyết.
Túc tam lý là Hợp huyệt (Hợp trị nội phủ) của Túc Dương minh Vị kinh. Tam âm giao, Huyết hải là huyết của Túc Thái âm Tỳ kinh, ba huyệt hợp dùng có thể gây được tác dụng kiện vận Tỳ Vị, bổ khí ích huyết. Tuyệt cốt là huyệt hội tủy, tủy là Thận tinh sở tụ, tinh lại có thể sinh hóa khí huyết, do đó chọn huyệt cũng có thể gây được tác dụng bổ não tủy, ích khí huyết. Tóm lại, bốn huyệt trên dùng chung là kiêm cố cả vốn của tiên thiên và vốn của hậu thiên, làm cho sinh hóa khí huyết có nguồn thì chứng khí huyết lưỡng hư ắt khỏi.

7. Gia giảm: Nếu bệnh nhân kiêm cả phóng xạ, khi xạ trị đến một mức độ nào đó, luôn luôn có biểu hiện nhiệt tà nhập lý thương âm, khi bệnh nhân cảm thấy váng đầu, đau đầu, buồn nôn ói mửa, xuất hiện âm dương hư thịnh, Can Vị bất hòa, có thể phối hợp dùng huyệt Thái khê của kinh Thận, để dưỡng âm tiềm dương, với huyệt Thái xung của kinh Can thể thư Can hòa Vị.

HƯ LAO PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “La Di Biên”.

2. Nhóm huyệt: Thôi thị Tứ hoa lục huyệt, Khí hải, Trường cường.

3. Cách dùng: Cứu cùng lúc 4 huyệt hai bên sống lưng, lúc đầu cứu 7 hoặc 14 hoặc 21 mồi, cho đến 100 mồi là tốt. Đợt khi nhọt cứu gần lành, hoặc lúc phát nhọt lửa (hỏa sang), cứu 2 huyệt trên xương sống, một lần cứu 3 – 5 mồi, không được cứu nhiều, nhiều thì e mệt mỏi. Sáu huyệt này nên chọn ngày Ly, ngày Hỏa mà cứu. Trong vòng 100 ngày sau khi cứu nên thận trọng trong việc phòng the lo nghĩ, ăn uống phải đúng giờ, lạnh nóng vừa phải, sinh hoạt điều độ, nếu sau khi nhọt lành mà bệnh chưa hết, lại cứu theo phép trên nữa, không ai không lành cả.

4. Công dụng: Ích dương bổ âm.

5. Chủ trị: Nam nữ bị chứng ngũ lao thất thương, khí huyết hư tổn, sốt cơn nóng âm ĩ trong xương, ho đờm suyễn, ngũ Tâm phiền nhiệt (Gồm: Dưới ức, 2 lòng bàn tay và bàn chân nóng), tay chân mệt mỏi và chứng gầy yếu.

6. Giải thích: Chứng chủ trị trong phương này, thuộc các dạng bệnh lao thương, là do khí huyết hư tổn lâu ngày dẫn đến âm tinh khuy tổn nặng mà gây ra. Khi bệnh nặng, nên ngược lại phải trị gốc, tức là “Dương bệnh trị Âm, Âm bệnh trị Dương” (“Tố vấn – Âm dương ứng tượng đại luận”). Bởi dương là căn bản (Gốc rễ) của âm cho nên phương này lập phép ích dương bổ âm, âm bệnh trị dương làm phép chính để điều trị.

Thôi thị tứ hoa lục huyệt, đều phân bố ở Đốc mạch, nơi Túc Thái dương Bàng quang kinh đi dọc, Trường cường cũng là Lạc huyệt của Đốc mạch, Đốc mạch thống đốc các dương, là bể của Dương mạch, Thái dương là nhất dương, dương khí thịnh đại, đồng thời phối hợp với huyệt Khí hải mà nơi nguyên khí hội tụ, gây được tác dụng đại bổ nguyên dương, lấy bổ âm làm gốc, làm cho sự sinh hóa của âm tinh có nguồn. Khí hải là huyệt của Nhâm mạch, Nhâm mạch lại tổng nhiệm (nhiệm vụ cai quản hết) các âm, là bể của âm mạch, bốn huyệt giáp xương sống trong Tứ hoa huyệt lại gần Tâm du, Can du mà thông với âm, đây là ý trị gốc không quên trị ngọn. Tóm lại, các huyệt cùng dùng, có thể đạt công hiệu ích dương bổ âm, âm bệnh trị dương. Các bệnh lao nhọc hư tổn, âm tinh bất túc sẽ tự khỏi.

7. Gia giảm: Có thể cứu Túc tam lý, để tăng cường tác dụng bổ gốc của hậu thiên.

BỔ KHÍ THOÁI NHIỆT PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Hiện Đại Châm Cứu Y Án Tuyển” của Lưu Quán Quân.

2. Nhóm huyệt: Trung quản, Túc tam lý, Tỳ du, Khí hải, Đại chùy, Dương trì.

3. Cách dùng: Mỗi ngày dùng mồi ngải lớn cỡ hạt lúa mì cứu Trung quản 5 mồi, Tam lý, Tỳ du 7 mồi, Khí hải, Đại chùy, Dương trì 5 mồi.

4. Công dụng: Bồi trung bổ nguyên, ích khí thoái nhiệt.

5. Chủ trị: Khí hư phát sốt, có chứng sốt nhẹ sau trưa không lui, mệt mỏi tay chân lạnh, ăn ít, sợ lạnh, đổ mồ hôi, tim hồi hộp, tiêu lỏng, sôi bụng, suy nhược mệt mỏi, sắc mặt vàng nhạt, môi trắng nhạt, rêu trắng mỏng, mạch trầm tế vô lực.

6. Giải thích: Hàn thấp khí quá nhiều, ăn uống thất thường, bệnh lâu ngày tổn thương đến Tỳ Vị hoặc lo nghĩ quá mức đều có thể đưa đến Tỳ Vị khí hư, Vị khí không tư dưỡng được nguyên khí, dẫn đến nguyên khí cũng hư, do bởi “Hỏa và nguyên khí không đứng chung, một thắng thì một bại” (“Tỳ Vị luận”), cho nên nguyên khí hư tổn không chế được âm hỏa mà dẫn đến phát sốt. Do đó, bồi trung bổ nguyên, ích khí thoái nhiệt là phép chữa chính. Trung quản là Mộ huyệt vùng bụng nơi Vị khí rót vào. Túc tam lý là hợp huyệt của Túc Dương minh Vị kinh, Tỳ du là Bối du nơi Tỳ khí rót vào. Cả 3 huyệt hợp lại có thể gây được tác dụng bổ trung ích khí, kiện vận Tỳ Vị, nhằm tư dưỡng nguyên khí. Khí hải là nguyên của Hoang, Dương trì là nguyên của Tam tiêu. Chọn hai huyệt này để ích nguyên khí. Đại chùy là huyệt của Đốc mạch, là hội của Tam Dương Đốc mạch (“Giáp ất kinh”). Đốc mạch là thống đốc các kinh dương là bể của dương mạch, Dương trì là huyệt của Thủ Thiếu dương Tam tiêu kinh, 2 huyệt hợp dùng có thể có thể thanh thấu hư nhiệt. Tóm lại, các huyệt hợp dùng, có thể đạt công hiệu bồi trung bổ nguyên, ích khí thoái nhiệt. Nguyên khí thắng âm hỏa thì hư nhiệt ắt trừ được.

7. Gia giảm: Đổ mồ hôi gia Bách lao để cầm mồ hôi dạng hư tổn (hư hãn). Tiêu lỏng gia Tam âm giao, Âm lăng tuyền để kiện vận Tỳ khí, thăng thanh khí chỉ tả (cầm ỉa).

 

CHỦ LAO HƯ NHIỆT PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Thần Cứu Kinh Luân”.

2. Nhóm huyệt: Khí hải, Quan nguyên, Cao hoang, Túc tam lý, Nội quan.

3. Cách dùng: Khí hải, Quan nguyên, Cao hoang, Túc tam lý, đều dùng phép cứu bổ, Nội quan dùng phép cứu tả.

4. Công dụng: Bổ nguyên điền tinh, thanh thấu hư nhiệt.

5. Chủ trị: Các lao tổn hư nhược, hư nhiệt không lui. Chứng thấy: Phát sốt lúc phát lúc không, sốt không thời gian nhất định, thường cảm thấy nóng lòng bàn tay bàn chân, luôn kèm có váng đầu, tinh thần mệt mỏi, gầy yếu nóng trong xương, hay quên, ăn kém, đổ mồ hôi trộm, vã mồ hôi mạch hư vô lực.

6. Giải thích: Tuổi già cơ thể suy nhược, lao nhọc quá mức, bệnh lâu ngày, suy dinh dưỡng bệnh nặng, đều có thể gây nên âm tinh nguyên khí trong cơ thể hư tổn; Do bởi âm hư thì nội nhiệt, “Hỏa và nguyên khí không đứng chung được, một thắng thì một bại”, cho nên dẫn đến sự phát sinh hư nhiệt. Do đó, phải lấy đại bổ nguyên khí điền bổ âm tinh làm phép chữa chính, để chữa gốc bệnh; Lấy thanh thấu hư nhiệt làm phụ, để chữa ngọn của bệnh. Trong phương này, Khí hải, Cao hoang, Quan nguyên đều là đại bổ nguyên khí, điền bổ âm tinh là huyệt cần thiết điều trị các lao tổn hư nhược. Cho nên phương này lấy 3 huyệt này làm chủ đồng thời cứu hơn trăm mồi. Do bởi chân khí là nguyên khí, không Vị khí thì không thể tư dưỡng được (“Tỳ Vị luận”), cho nên chọn Túc tam lý hợp huyệt của Túc Dương minh Vị kinh, để bổ hậu thiên mà tư dưỡng tiên thiên, làm cho sự sinh hóa của nguyên khí có nguồn. Nội quan là huyệt của Thủ Quyết âm Tâm bào kinh, lại bên trong liên lạc với Thủ Thiếu dương Tam tiêu kinh, lại vừa thông ở Âm Duy mạch, Tâm bào, Tam tiêu đều tàng tướng hỏa. Âm Duy mạch “Khởi ở các Âm giao” (“Nạn kinh”) mà duy trì liên hệ các âm kinh. Cho nên chọn một huyệt Nội quan, có thể gây được tác dụng điều lý âm dương, thanh thấu hư nhiệt, do đó tác giả có chú thích thêm 4 chữ “Trị lao nhiệt tốt” dưới huyệt Nội quan, cho thấy rằng Nội quan đích thực có hiệu quả tốt để lui hư nhiệt. Tóm lại, các huyệt dùng cùng, bổ thấu (thanh) kiêm thi (dùng), tiêu bản (gốc ngọn) kiêm cố, thấu hư nhiệt, thì các hư lao nhiệt tự khỏi.

7. Gia giảm: Nếu ăn kém quá có thể gia Thái bạch, Tỳ du, Vị du, Trung quản, để bổ ích Tỳ Vị. Vã mồ hôi, mồ hôi trộm gia Bách lao, Âm khích để cầm mồ hôi đang hư nhược.

 

II. LOẠI BỔ ÍCH TẠNG PHỦ HƯ TỔN

PHỤC MẠCH PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Cấp chứng châm cứu liệu pháp”.

2. Nhóm huyệt: Thái Uyên, Xích trạch, Nội quan, Khúc trì, Tâm du.

3. Cách dùng: Kích thích vừa phải, lưu kim, không được quá 15 phút.

4. Công dụng: Bổ Phế trợ Tâm, ích khí phục mạch.

5. Chủ trị: Chứng vô mạch.

6. Giải thích: Phế triều bách mạch, bách mạch đều bắt đầu ở Phế; Tâm chủ huyết mạch, nếu Tâm Phế khí hư, vô quyền chủ mạch thì sẽ phát sinh chứng vô mạch. Cho nên bổ Phế trợ Tâm, ích khí phục mạch làm phép chữa chính của bệnh này. Phương này là dựa theo phép tắc này mà lập ra. Trong phương Thái uyên là Nguyên du huyệt của Thủ Thái âm Phế kinh, lại là chỗ hội của mạch, Xích trạch là Hợp huyệt của Phế kinh, Khúc trì là huyệt của Thủ Dương minh Đại trường kinh trong quan hệ biểu lý của Thủ Thái âm Phế kinh, cho nên 3 huyệt hợp dùng có thể gây được tác dụng bổ ích Phế khí, trợ Tâm khí, phục huyết mạch. Bởi Phế có thể trợ giúp Tâm khí để vận huyết chủ mạch. Nội quan phối hợp với Tâm du có thể gây được tác dụng bổ Tâm khí, phục huyết mạch. Tóm lại, các huyệt hợp dùng có thể đạt công hiệu bổ Phế trợ Tâm, ích khí phục mạch, thì chứng vô mạch tự khỏi.

 

BỔ TÂM THẬN PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Hiện Đại Châm Cứu Y Án Tuyển” Lâu Bách Tầng.

2. Nhóm huyệt: Quan nguyên, Thận du, Tam âm giao, Tâm du, Thần môn.

3. Cách dùng: Các huyệt đều dùng phép bình bổ bình tả. Mỗi huyệt vê kim 1 – 2 phút, lúc đầu mỗi ngày châm 1 lần, ba ngày sau cách này châm 1 lần, châm tất cả 10 lần là một liệu trình.

4. Công dụng: Bổ ích Tâm Thận, thanh Tâm cố tinh.

5. Chủ trị: Di, mộng tinh kiêm có tinh thần không phấn chấn, uể oải kém sức, váng đầu ù tai, trí nhớ kém, đau lưng lưỡi đỏ, mạch tế sác.

6. Giải thích: Nguyên nhân chủ yếu phát sinh di tinh, mộng tinh là tinh thần quá lao nhọc, quá suy nghĩ, Tâm hỏa thịnh, Tâm huyết bất túc, Thận âm hao tổn dần, dẫn đến tướng hỏa động, nhiễu động tinh thất mà gây ra. Do đó, bổ Tâm huyết, ích Thận âm, thanh Tâm hỏa, tả tướng hỏa, cố tinh thất là phép chữa chính. Trong phương lấy Quan nguyên phò hư của hạ nguyên, lấy Thận du, Tam âm giao bình bổ bình tả, để ích Thận âm, tả tướng hỏa; Lấy Thần môn nguyên huyệt (tạng bệnh chọn nguyên huyệt) của Tâm. Tâm du nơi Tâm khí rót vào, dùng phép bình bổ bình tả, hai huyệt phối hợp nhằm bổ Tâm huyết, thanh Tâm hỏa. Tâm Thận hỏa được thanh thì tinh thất tự cố. Cho nên các huyệt hợp dùng, có thể đạt công hiệu giao thông Tâm Thận, thì chứng di mộng tinh tự khỏi.

7. Gia giảm: Trường hợp ù tai gia Thính hội, Nhĩ môn để điều kinh chỉ minh (hết ù tai). Đau lưng gia Bạch hoàn du, Ủy trung để điều kinh chỉ thống (giảm đau).

 

CỨU BỔ TỲ VỊ PHƯƠNG

1. Xuất xứ: “Vệ Sinh Bửu Giám”.

2. Nhóm huyệt: Trung quản, Khí hải, Túc tam lý.

3. Cách dùng: Tất cả đều cứu, dùng phép bổ. Mỗi huyệt cứu 7 – 21 mồi.

4. Công dụng: Bổ Vị ích Tỳ, bồi nguyên cố bản.

5. Chủ trị: Chứng Tỳ Vị khí hư. Thấy chứng: ăn kém đầy tức vùng dạ dày, nấc cụt ói mửa, tiêu lỏng, sôi ruột, hình thể gầy yếu, tay chân vô lực, thở vội biếng nói; hoặc kèm sốt nhẹ không lui, hoặc thân thể nặng nề, hai chân hàn lạnh, hoặc Vị quản đau lạnh, lưỡi nhạt, mạch tế nhược.

6. Giải thích: Ở chỗ ẩm thấp lâu ngày, lao nhọc quá độ, ăn uống thất thường, hoặc quá dùng thuốc hàn lương, đều có thể tổn thương đến Trung tiêu Tỳ Vị. Tỳ Vị là vốn của hậu thiên, nguyên khí là vốn của tiên thiên, cả hai có thể bổ trợ cho nhau. Do đó, chứng Tỳ Vị hư nhược, ắt phải lập phép chữa chính là bổ Vị ích Tỳ, bồi nguyên cố bản. Trong phương này lấy Trung quản là Mộ huyệt của Vị phối hợp lại để giáng bổ Vị (lấy thông làm bổ), lại có thể giáng tiếp thăng bổ Tỳ khí, đây là một loại đặc điểm lập phương của bài này. Khí hải là bể của nguyên khí, chọn để bồi nguyên cố bản, nhằm trợ trung khí. Tóm lại, các huyệt hợp dùng, có thể đạt công hiệu bổ Vị ích Tỳ, bồi nguyên cố bản, thì các chứng Tỳ Vị hư ắt khỏi.

7. Gia giảm: Trường hợp kiêm có chi dưới hàn lạnh, gia cứu thêm Dương phụ, Tuyệt cốt. Khí thấp là tương đối nặng gia huyệt Tam âm giao.

Cùng chuyên mục

BẢNG PHÂN LOẠI HUYỆT VỊ THEO LOẠI BỆNH THEO CHÂM CỨU ĐẠI THÀNH

Bảng này trích từ “Châm Cứu Đại Thành”, tất cả gồm 3 thiên: Nội cảnh, Ngoại cảnh và Tạp bệnh. Tùy chứng để dùng...

MỘT SỐ CÔNG THỨC TRỊ BỆNH THÔNG THƯỜNG THEO ĐỔNG THỊ

I. BỆNH THUỘC THẦN KINH Đau dây thần kinh tam thoa - Công thức 1: Tam trọng + Hạ tuyền + Trung tuyền + Thượng tuyền. -...

Cận Tam Châm Châm Cứu

Cận Tam châm Jin san zhen (Jin three needle Technique) Người sáng lập ra trường phái này là Giáo sư Cận Thụy (靳瑞) Giáo sư chủ...